Cái đêm kinh hoàng mẹ giết con để cứu cả làng… Thời gian trôi qua gần nửa thế kỷ, nhưng nỗi đau ấy vẫn còn in đậm theo thời gian. Nỗi đau hằn lên trên người mẹ 47 năm nay, ngày ngày ôm chiếc khăn từng quấn con, đi từ làng trên đến xóm dưới hát ru.

Thiếu phụ vội cởi chiếc áo trên mình quấn con lại, ôm đứa con nhỏ trên tay bò lên khỏi miệng hang. Mặc cho mưa rơi hòa lẫn nước mắt, bà dùng hai tay móc từng nắm đất ướt lạnh chôn sống đứa con. “Mẹ không muốn giết con, nhưng để dân làng được sống, con phải chết”… 

Chiến tranh lùi lại phía sau, câu chuyện tưởng chừng như đã đi theo dĩ vãng. Nhưng nỗi ám ảnh, cùng nỗi đau chôn sống đứa con ruột của mình ngày đó đã đi theo bà Lê Thị Nghê còn suốt đời.noi-dau-xe-long-cau-nguoi-me-chon-song-con-de-cuu-dan-lang

Bà Lê Thị Nghê

Còn gọi Năm Nghê, 80 tuổi, ngụ thôn Linh Kiều, xã Hiệp Hòa, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam. Cái tên đã trở nên khá quen thuộc với người dân nới đây. Từ trẻ nhỏ đến người già, ai cũng biết đến người phụ nữ này. Người đã tự tay chôn sống con mình cứu dân làng. Kể về bà, ai cũng không thể cầm lòng được nước mắt.

Cuộc đời bà Nghê chính thức rẽ sang mộ bước ngoặc tăm tối…

Chuyện kể rằng vào một đêm mưa gió đầu tháng 10/1969, Mỹ rải hàng chục tấn bom xuống tàn phá thôn nghèo. Trong chiến tranh, thôn có tên Trà Linh, tỉnh Quảng Nam lúc bấy giờ. Mảnh đất nhỏ khô cằn phải gánh trên mình hàng chục tấn bom…

Vùng thượng nguồn sông Thu Bồn được coi như là chiếc nôi cách mạng. Nơi đây cũng là tâm điểm để bọn Mỹ  đổ quân càn quét. Sau chiến dịch Mậu Thân 1968, Mỹ tăng cường đánh phá vùng rừng núi và trung du các tỉnh miền Trung. 

Sau sự anh dũng chiến đấu của bộ đội và du kích xã Quế Tân. Quân ta đã bắn rơi một máy bay, bắn cháy hai tàu chiến. Tiêu diệt hơn 50 lính Mỹ, giặc điên cuồng đáp trả. Sáng một ngày đầu tháng 10/1969 Mỹ cho máy bay rải thảm bom. Còn điều thêm tàu chiến ngược sông Thu Bồn, huy động tất tốc lính thủy quân lục chiến hủy diệt vùng căn cứ cách mạng. 

Bấy giờ…

Bà Nghê dắt con gái 4 tuổi và con trai 3 tháng tuổi đi ẩn náu. Cán bộ đưa bà cùng với 200 người dân thôn Linh Kiều vào trong hang Hòn Kẽm. Giặc cho pháo bầy, đại liên, máy bay, tàu chiến… Rãi đạn vào núi dọn đường để mở cuộc tìm kiếm càn quét dân làng. Cả tuần liền chạy giặc, không chết vì bom đạn…Nhưng cái đói cứ liên tục hoành hành dân làng.

noi-dau-xe-long-cau-nguoi-me-chon-song-con-de-cuu-dan-lang-1

 Chưa thể lần ra nơi trú ẩn của dân làng, giặc càng điên cuồng khoanh vùng. Bọn chúng lật tung từng mét đất, bới từng ngọn cỏ, bắn phá một cách ác liệt hơn. Lúc này, cơn đói hàng trăm người dân trú ẩn không quan trọng bằng việc phải tuyệt đối im lặng để tránh bị giặc phát hiện, giết chết. 

Đứa bé 3 tháng tuổi còn quá nhỏ để chịu đựng. Mẹ đói quay quắt làm sao con nhỏ lại không khát sữa cho được. Đứa trẻ cứ khóc thét ngày đêm, không tài nào nín được.  Đêm 8/10/1969, trời thì vẫn vẫn mưa, tiếng súng đì đùng ngày một gần bên tai. Tiếng trẻ khóc thét cứ vọng ra phía ngoài hang. Hàng trăm gương mặt hốc hác vừa kiệt sức vừa sợ hãi, bàng hoàng nhìn về phía mẹ con bà Năm Nghê.

Bà Nghê lúc này bóp chặt “đủm ruột”, rồi quyết định bất ngờ: “Mẹ không muốn giết con, nhưng để dân làng được sống, con phải chết..”. Thiếu phụ vội cởi bỏ chiếc áo quấn con lại, ôm đứa con nhỏ bò lên khỏi miệng hang. Mặc cho mưa rơi hòa lẫn nước mắt, bà dùng hai tay móc từng nắm đất ướt lạnh chôn sống đứa con. Dưới ánh chớp lóa của đạn pháo sáng, lớp đất vẫn còn đang rục rịch. Biết con quẫy đạp, người mẹ vội gạt nước mắt xóa dấu mặt đất. Rồi lao vào hang vừa lúc giặc tới gần. Bà cắn bật máu môi, nén cơn đau vào lòng để không bật ra tiếng khóc.

Cuộc đời bà Năm Nghê tan nát vì giặc Mỹ…

Sau cái đêm kinh hoàng ấy, người mẹ thường xuyên u uất, sinh bệnh, sức khỏe yếu dần. Gắng gượng vượt qua chiến tranh loạn lạc, bà nén lại đau khổ, làm lụng nuôi con gái còn nhỏ dại.

Kìm nén, gặm nhấm nỗi đau để nó lớn lên theo sự chịu đựng của bà mỗi ngày khiến bà có dấu hiệu điên tỉnh lẫn lộn. Bà hóa điên…

Ngày qua ngày ôm chiếc khăn từng quấn con trai ngày xưa, đi khắp làng trên xóm dưới hát ru. Những đêm mưa gió, bà lại đốt nhang… Một mình vào rừng mà miệng cứ thì thào “phải tìm được mộ con”.

Cứ mỗi lần lang thang như vậy, bà lại đau một trận thừa sống thiếu chết. Sau đó, nhiều khi nằm viện cả tháng trời. Bà lão ngày ngày luôn miệng lẩm bẩm: “Thằng Tân được mẹ mang lên miệng hầm chôn, nhưng 3 ngày sau thì mất dấu mộ rồi”.

Đôi khi tỉnh táo, bà cũng không thoát nỗi nhớ con…

Sự hy sinh của Mẹ thật đáng khâm phục!